Phần 2 - Tiền, đầu tư tài chính và vật tư - Lý thuyết trọng tâm
Tiền dễ thanh khoản nhưng dễ sai phạm; vật tư có thể đã chi tiền mà chưa thành chi phí. Vì vậy kế toán phải tách dòng tiền, tài sản và nguồn.
Tiền và kiểm soát
TK 111 theo dõi tiền mặt thực có tại quỹ; TK 112 theo dõi tiền gửi theo từng ngân hàng, Kho bạc, nguồn và loại tiền; TK 113 dùng khi tiền đã nộp/chuyển nhưng chưa nhận được xác nhận đến nơi. Số dư sổ không thay thế kiểm kê hoặc sao kê.
- Mọi thu/chi quỹ có phiếu, chữ ký và chứng từ gốc.
- Thủ quỹ và kế toán quỹ đối chiếu thường xuyên.
- Khoản tiền giữ hộ, đặt cọc hoặc tạm thu không được tự động coi là thu.
Tạm ứng
TK 141 phản ánh tiền giao cho người lao động để thực hiện nhiệm vụ. Khi giao tiền, đơn vị có một khoản phải thu; chỉ khi người nhận nộp hồ sơ hợp lệ mới chuyển phần được duyệt sang tài sản hoặc chi phí. Số thừa phải nộp lại, số thiếu được thanh toán thêm theo phê duyệt.
Hàng tồn kho
Nguyên liệu và CCDC nhập kho ghi theo giá gốc gồm giá mua và chi phí trực tiếp để đưa tài sản về trạng thái hiện tại, trừ khoản giảm giá/chiết khấu liên quan. Thuế GTGT được khấu trừ theo dõi ở TK 133; thuế không được khấu trừ tính vào giá gốc. Khi xuất dùng mới ghi giảm kho và tăng chi phí phù hợp.
Nguồn hình thành
Nếu dùng khoản tạm ứng NSNN, viện trợ hoặc phí để lại để mua tài sản dùng nhiều kỳ, giá trị có thể chuyển từ TK 337 sang TK 366 thay vì ghi thu toàn bộ ngay. Thu được ghi tương ứng khi vật tư xuất dùng hoặc TSCĐ hao mòn/khấu hao theo quy định TT107.