Đòn bẩy, lợi nhuận và khả năng trả lãi
Mục tiêu và nguyên tắc
Bạn sẽ phân biệt tổng nợ phải trả với nợ vay và tránh nhầm lợi nhuận trước thuế với lợi nhuận trước lãi vay, thuế. Việc phân tích phải giữ định nghĩa ổn định qua các kỳ và dùng số liệu có thể đối chiếu về báo cáo, sổ chi tiết.
Ba khái niệm cần tách
Tổng nợ phải trả gồm nhiều nghĩa vụ như người bán, thuế, người lao động và nợ vay. Nợ vay là một phần, thường gắn với nghĩa vụ lãi và gốc theo hợp đồng. Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu khác tỷ lệ nợ vay trên vốn chủ sở hữu. Khi báo cáo dùng chữ D/E, phải nêu rõ D là tổng nợ hay nợ vay.
EBT là lợi nhuận trước thuế. EBIT là lợi nhuận trước lãi vay và thuế theo định nghĩa phân tích đã chọn. Khi không có điều chỉnh khác, có thể bắt đầu từ EBT và cộng chi phí lãi vay để tính EBIT. EBITDA cộng thêm khấu hao, phân bổ theo phạm vi đã xác định; nó chưa phải dòng tiền thực thu vì chưa phản ánh đầy đủ vốn lưu động, đầu tư và nghĩa vụ khác.
Hệ số trả lãi ICR thường tính bằng EBIT chia chi phí lãi vay của cùng kỳ. Nếu lãi vay bằng không hoặc EBIT âm, cần giải thích thay vì gán một nhãn tốt xấu máy móc. Việc vốn hóa lãi vay làm phân tích phức tạp hơn; phải nêu phạm vi chi phí lãi đang dùng và kiểm cả nghĩa vụ tiền lãi thực phải trả.
Ví dụ giả định
Một doanh nghiệp có tổng nợ 24 tỷ, trong đó nợ vay 15 tỷ, vốn chủ sở hữu 12 tỷ. Tổng nợ trên vốn là 2 lần, nợ vay trên vốn là 1,25 lần. Nếu chỉ ghi “D/E = 1,25” mà người đọc hiểu là tổng nợ, bảng sẽ gây hiểu sai đáng kể.
Cùng kỳ, EBT là 1,8 tỷ và chi phí lãi vay ghi nhận là 0,6 tỷ; giả định không có điều chỉnh khác. EBIT = 1,8 + 0,6 = 2,4 tỷ; ICR = 2,4 / 0,6 = 4 lần. Nếu khấu hao, phân bổ thuộc phạm vi là 0,8 tỷ, EBITDA = 3,2 tỷ. Không gọi 3,2 tỷ là số tiền ngân hàng chắc chắn có thể thu nợ.
Cách lập bảng phân tích
- Tách tổng nợ, nợ vay chịu lãi, vốn chủ sở hữu và ngày chốt; kiểm vốn bằng tài sản trừ nợ.
- Lập cầu nối EBT đến EBIT, EBITDA, ghi từng khoản cộng hoặc trừ và tài liệu chứng minh.
- Tính tỷ lệ theo cùng định nghĩa cho các kỳ so sánh, không đổi mẫu số để tạo xu hướng tốt lên.
- Nếu vốn chủ sở hữu bằng không hoặc âm, giải thích ý nghĩa giới hạn của tỷ lệ và đánh giá trực tiếp khả năng duy trì hoạt động.
- Kiểm lịch trả lãi, gốc và phần lãi đã vốn hóa để không bỏ sót nghĩa vụ tiền mặt.
Lỗi thường gặp và tóm tắt
Chuyển nợ ngắn hạn sang dài hạn giữ nguyên tổng nợ nên không tự làm giảm tỷ lệ tổng nợ trên vốn. Tăng vốn đăng ký chưa đồng nghĩa có vốn đã góp. Hãy dùng chỉ số để đặt câu hỏi về cấu trúc vốn, sau đó trả lời bằng hợp đồng, chứng từ và dòng tiền thật; không coi một tỷ lệ là quyết định cấp tín dụng.